Phải quan sát bằng mắt để tìm ra được những dấu hiệu khác lạ về hình thể, khí lực, tinh thần và mầu sắc (hình, khí, thần, sắc) của bệnh nhân đb hiện ra trên các bộ vị ở cơ thể khi có bệnh. Chỉ cần ghi nhận những gì mình thấy được từ trên xuống dưới đầy đủ để có thể chẩn đoán bệnh dễ dàng chính xác.
Hình: Là quan sát thân thể bệnh nhân khỏe mạnh hay yếu, mập hay gầy.
Khí: Là quan sát mặt, da, tai, tóc, móng, răng... còn tươi nhuận, mềm hay khô cứng, lỗ chân lông kín hay hở.
Thần: Là quan sát tinh thần bệnh nhân còn vui vẻ hoạt bát hay chậm chạp, hoặc lo buồn đau đớn, cáu giận.
Sắc: Là quan sát mầu sắc hiện ra ở mặt, da, tay chân, sáng hay tối, đậm hay nhạt, ở mắt xem huyết đủ hay thiếu, mầu sắc hiện ra ở tai, ở lưỡi và bộ vị trên mặt có thuận hay nghịch với ngũ hành. Mầu sắc trong phần quan sát chẩn đoán bệnh trong đông y được quy định như sau:
Mầu đỏ: thuộc hỏa, khí huyết nhiệt, tim và tiểu trường.
Mầu vàng: thuộc thổ, khí thấp, tỳ vị (lá mía và bao tử).
Mầu trắng: thuộc kim, khí khô táo, phế và đại trường.
Mầu đen: thuộc thủy, khí hàn, thận và bàng quang.
Mầu xanh: thuộc mộc, khí phong, gan và mật.
Mầu sắc hiện ra ở mặt cho biết mức độ bệnh:
Bệnh nặng hay nhẹ (thuộc biểu hay thuộc lý): bệnh còn ở ngoài tạng phủ hay đã vào tạng phủ, là do mầu ấy nhạt hay đậm.
Bệnh thuộc hư hay thực: do mầu sắc ấy tối bầm hay sáng tươi.
Bệnh thuộc hàn hay nhiệt: do mầu sắc trắng nhiều hay đỏ nhiều.
Bệnh làm đau: do sắc hiện trên mặt nhiều mầu xanh hơn các mầu khác.
Quan sát đầu mặt, cổ gáy.
Hình thể: Hình thể của đầu mặt tượng trưng cho hình thể của qủa tim, đông y dùng để tìm ra những bất thường của qủa tim hiện ra trên đầu mặt xem nó có một hay nhiều những yếu tố như:
Khuôn mặt hốc hác: là suy nhược, kém hấp thụ, suy dinh dưỡng.
Khuôn mặt tròn đầy: dinh dưỡng đầy đủ, khỏe mạnh.
Khuôn mặt sưng phù: Cơ thể bị giữ nước, nhiều thủy thiếu hỏa để thủy hóa khí.
Da mặt dầy: là khí yếu không tuần hoàn ra đến ngoài da.
Da mặt mỏng: là khí mạnh tuần hoàn ra đến da.
Da có mụn hay chấm xám đen không có ngòi, sờ vào mụn không đau gọi là mụn âm do khí dương suy.
Da có mụn nhỏ chấm đỏ hoặc rôm sảy, có ngòi, sờ vào đau gọi là mụn dương thực.
Hai bên mặt to bằng nhau: Cơ sở của qủa tim tốt.
Mặt bên dầy bên hóp hoặc có ngấn vạch chia má trên má dưới thành hai phần: đó là dấu hiệu vách thành tim bị dầy làm hở van tim phía bên má dầy, hẹp van tim bên má bị hóp. Có thể xác nhận chắc chắn tình trạng bệnh bằng một trong các dấu hiệu như cảm thấy đau bên má khi tay đụng vào như kim châm đụng phải, hay thỉnh thoảng gân mặt hơi giựt nhẹ.
Cằm có nọng thịt trông to hơn phần ở trán: đó là dấu hiệu của bệnh cao áp huyết, nếu dùng tay gõ vào cái nọng đó thấy đau nhiều.
Mặt và mắt đỏ: dấu hiệu sốt do tâm nhiệt.
Cằm và cổ đỏ: đó là dấu hiệu sốt do thận nhiệt.
Trước cổ họng: Nhìn thấy mạch đập nhanh ở cổ phụ nữ, có thể đang có thai. Có những nơi u hay phình ra là dấu hiệu của bệnh thyroide, bướu hạch. Ở hai bên cổ dưới chân tai sưng đau là cơ thể nhiễm trùng.
Sau gáy: Người không mập mà sau gáy có khối thịt u lên như mập là dấu hiệu cao áp huyết.
Khí lực: Nhìn mặt thấy da mặt sáng là sức khỏe đủ, da mặt tối là sức khỏe yếu.
Tinh thần: Nhìn mặt xem vui tươi hay ủ rũ, lo lắng, sợ sệt, mệt mỏi, buồn chán.
Mầu sắc: Sắc mặt hồng hào hay nhợt nhạt trắng, trắng xanh, xám, sậm, đen, mốc như mầu chì, hay có những chỗ trắng, chỗ đỏ, đỏ sáng, đỏ đậm, đỏ tối chìm dưới da, có vết nám hoặc quầng thâm ở má, ở mắt, hoặc mầu sắc trên mặt hồng hào khỏe mạnh, hoặc hoàn toàn đỏ như đang bị sốt.
Quan sát hai bên má: Má là bộ vị chỉ về phổi
Má nào đỏ, khác hẳn với mầu sắc bình thường của các nơi khác trên mặt, hay chỉ đỏ đều ở hai bên má là nhiệt, còn các bộ vị khác trên mặt không đỏ, hoặc bên má trắng mét là phổi hàn, trắng xanh hoặc sạm đen là phế thận bệnh.
Má có bên trắng bên không hay cả hai bên đều trắng hơn các nơi khác: đó là dấu hiệu của bệnh phổi, bên nào trắng nhiều là bên đó bệnh nhiều.
Má bên trái đỏ hơn các chỗ khác: đó là dấu hiệu bệnh sốt do can nhiệt.
Má bên phải đỏ: đó là dấu hiệu bệnh sốt do phế nhiệt.
Hai bên má nổi mầu nhạt đỏ lẫn trắng: dấu hiệu dương khí hư.
Gò má góc dưới khóe mắt ngoài biến dạng: nổi cục u nhỏ mầu hơi đậm hơn các chỗ khác, có thể đó là dấu hiệu bướu trong vú.
Quan sát mắt: Mắt chỉ chức năng của ngũ tạng, nó biểu lộ dấu hiệu bệnh của tim, gan, lá lách, phổi, thận.
Mắt trong hay đục: Mắt trong là can khí khai khiếu ra mắt đủ. Mắt đục là can khí suy không lên nuôi mắt, làm mỏi mắt, hoa mắt.
Mắt mờ do hỏa vọng: Do can khí thực.
Mắt tinh anh hay lờ đờ: Mắt tinh anh là thần mạnh, mắt lờ đờ là thần kinh suy nhược.
Mắt khô hay ướt: Mắt khô là thủy khí của thận không lên nuôi mắt, mắt ướt là thủy khí của thận đầy đủ.
Mắt có quầng thâm hay không: Có quầng thâm do thận hư.
Tròng trắng: chỉ bộ vị của phổi, nếu trong sáng là phổi tốt, trắng đục là phổi yếu, bệnh.
Tròng đen: chỉ bộ vị của gan, nếu trong là chức năng gan tốt, nếu đục là chức năng gan hư yếu.
Con ngươi to hay nhỏ: Con ngươi chỉ bộ vị của thận, con ngươi bình thường nhìn từ bên ngoài vào có bề ngang to chừng 5mm, nếu con ngươi thu nhỏ lại khi ra ánh sáng chỉ còn 3mm, khi vào trong tối sẽ nở to ra khoảng 7mm chứng tỏ mắt điều tiết đúng. Mắt có dấu hiệu bệnh cận thị thì nở lớn mà không thu nhỏ được, dấu hiệu viễn thị thì con ngươi thu nhỏ lại mà không nở ra được.
Mắt có vết trắng đục che tròng đen: là dấu hiệu mắt có cườm.
Gai thị không đều: là những hình que hiện ra nơi tròng đen không đều làm loạn thị, loạn sắc.
Tròng trắng có nhiều gân máu đỏ: là dấu hiệu gan nhiệt phạm phế, nếu có ghèn là can phế nhiệt.
Mắt lé: Lé là dấu hiệu can phong làm cơ vòng, cơ co và cơ giãn điều chỉnh mắt bị lệch một bên làm lé vào trong hay lé ra ngoài.
Mi mắt sưng: nếu sưng mí mắt là dấu hiệu tỳ nhiệt tạo ra thấp nhiệt là điều kiện dễ phát sinh vi trùng và dễ bị nhiễm trùng.
Mắt và trong mí mắt trắng xanh đục, không có thần sắc: là dấu hiệu bạch cầu tăng, hồng cầu giảm. Nếu cơ thể suy nhược dáng người mệt mỏi, da trắng xanh là dấu hiệu ung thư máu.
Mắt ưa nhắm không nhìn ai: thuộc chứng hàn.
Mắt đỏ, mở lớn nhìn người: thuộc chứng nhiệt.
Quan sát tinh thần qua ánh mắt
Mắt nhìn đăm đăm: là hận thù, giận, bực tức.
Mắt nhìn đăm đăm rồi không thèm nhìn nữa: là ghen ghét khinh bỉ.
Mắt nhìn ngơ ngác: tâm trạng rối loạn, lo lắng, sợ hãi.
Mắt nhìn ngơ ngác mà ánh mắt yếu: là thần thoát, thoát dương khí, sắp bị tai họa hay tận số.
Mắt nhìn áy náy: tâm trạng lo lắng không yên.
Mắt nhìn tò mò: Tinh thần không ổn định, hoang mang, nghi ngờ.
Quan sát mũi: Mũi là bộ vị để khám bệnh ở tim, cuống phổi, cổ họng.
Cánh mũi phập phồng: Nếu có là dấu hiệu phổi bệnh dễ nhiễm cảm nóng lạnh.
Đầu mũi đỏ: là dấu hiệu tâm dư hỏa, do sốt, do áp huyết cao, người bị nhiệt.
Đầu mũi trắng: là dấu hiệu tim mất nhiệt, người bị hàn, lạnh.
Mũi sưng: là dấu hiệu nhiễm trùng, viêm xoang.
Chân mũi lở nứt mầu đỏ hay nổi hột mụn: là dấu hiệu thấp nhiệt ở tim gây ra loạn nhịp tim, tim đập mất nhịp.
Sống mũi lệch: là dấu hiệu vách ngăn mũi lệch dễ bị nghẹt một bên mũi.
Quan sát môi: Môi là bộ vị để tìm dấu hiệu bệnh tật ở chức năng tiêu hóa của tỳ vị, tim mạch và buồng trứng ở phụ nữ.
Môi dầy hay mỏng: Môi tự nhiên dầy lên do tỳ nhiệt, do phong nhiệt làm sưng môi.
Môi khô hay ướt: Môi khô là dấu hiệu người thiếu thủy khí hay bị khát nhưng uống nước nhiều môi vẫn khô là do thận thủy không hóa khí do thận dương không chuyển hóa.
Môi nhợt trắng hoặc xanh tím: thuộc hàn chứng.
Môi khô nứt sưng đỏ: thuộc nhiệt chứng.
Môi trắng nhạt hay hồng hay đỏ đậm: Môi trắng là chức năng tỳ hư yếu không muốn ăn, sưng hay xệ là tỳ bị thấp nhiệt, hay môi dưới tự nhiên xệ xuống cằm như sưng là dấu hiệu của hở van tim.
Môi đỏ không tươi, ngả mầu thâm: Do huyết ứ tắc thuộc thực chứng.
Môi bị thâm đen vĩnh viễn không trở lại mầu cũ như trước khi chưa bệnh: là dấu hiệu phản ứng phụ do lạm dụng truyền qúa nhiều nước biển khi bị bệnh.
Vị trí môi cân đối với khuôn mặt hay bên cao bên thấp: là dấu hiệu một bên buồng trứng bị xệ, nếu không có dấu hiệu đau chỉ có dấu hiệu bờ môi trên một bên có một lỗ chấm lõm rất nhỏ nhìn kỹ mới thấy, là dấu hiệu đã cắt mổ buồng trứng.
Vị trí cạnh khóe môi khi cười hơi lệch: là dấu hiệu sắp bị trúng phong méo miệng, gân một bên má miệng thỉnh thoảng co giật là thần kinh mặt bên co bên rút.
Rãnh cười quanh môi mũi không đều: bên cao bên thấp, bên dài bên ngắn là dấu hiệu đau do dây chằng co rút.
Mầu sắc chung quanh môi trên trắng xanh: là dấu hiệu lạnh ruột sôi bụng ăn không tiêu, hay bị tiêu chảy, do ăn nhiều thức ăn tạo ra nhiều hàn khí như cam, rau xanh, đồ biển, uống lượng nước nhiều trong một lần làm xệ ruột.
Mầu môi và chung quanh môi trắng xanh: là dấu hiệu ung thư ruột, bụng nặng tức, đau.
Rãnh nhân trung giữa mũi và môi: chỉ bộ sinh dục nam nữ. Khi hai vợ chồng bị hiếm muộn, khó thụ thai, nếu nguyên nhân không do yếu tố thuộc lãnh vực đông tây y, là do tử cung bị lệch, có dấu hiệu lệch nhân trung, người ngoài có thể nhận ra khi vọng chẩn. Ngoài ra có trường hợp không phải lý do tử cung lệch thì do nguyên nhân chiều dài và độ sâu hiện ra trên nhân trung của hai vợ chồng không phù hợp, giống như nồi và vung không đúng số, trong sách tướng số cũng từng nói "mồm làm sao, ngao làm vậy".
Quan sát lưỡi: Lưỡi là bộ vị chẩn đoán những diễn tiến của bệnh tật ở bao tử, chức năng chuyển hóa và hấp thụ thức ăn có liên quan đến ngũ tạng như tim, gan, phế, thận.
Đầu lưỡi: chỉ sự hoạt động và diễn tiến bệnh tình thuộc về chức năng tim. Nếu đầu lưỡi đỏ hơn các chỗ khác của lưỡi là tim nhiều hỏa gây ra nhiệt bệnh, cần phải khám phối hợp ở các bộ vị khác để tìm bệnh (như cao áp huyết, sốt nhiệt, bao tử nhiệt, táo bón..). Nếu mầu đỏ tươi sáng là bệnh thuộc thực chứng, mầu đỏ tối thuộc hư chứng.
Da lưỡi: chỉ chức năng hoạt động của phổi. Da lưỡi sáng, tươi nhuận, mỏng, trơn mịn, chứng tỏ sự khí hóa của phế tốt.
Mặt lưỡi: chỉ chức năng hoạt động của bao tử (vị), nếu có mầu hồng, mềm dẻo, linh động, có một lớp rêu lưỡi mỏng, là chức năng của vị tốt.
Nếu mặt lưỡi dầy, có lớp rêu trắng dầy: là chức năng bao tử không tốt.
Nếu mặt lưỡi có hột, có gai, đầu lưỡi và giữa lưỡi đỏ: là chức năng của tâm và vị đều thực nhiệt.
Nếu mặt lưỡi và cả lưỡi có những chấm tụ máu bầm đen: là nguy hiểm, bệnh liên quan đến tim, gan, tỳ vị, cho biết trong cơ thể có nơi bị xuất huyết tụ máu bầm làm tắc nghẽn tuần hoàn huyết, ăn uống không được, máu bị nhiễm độc, nhiễm trùng.
Rêu lưỡi: Nếu rêu lưỡi trắng dầy, khô là bao tử nhiệt, rêu lưỡi dầy ngả sang mầu vàng khô là bao tử qúa nhiều nhiệt, mầu vàng khô chuyển sang mầu vàng khô xanh, có vết nứt trên rêu lưỡi hay vết nứt giữa lưỡi như bị dao rạch là bao tử có dấu hiệu nhiệt làm loét bao tử, thân nhiệt nóng, trán nóng, khô họng, uống bao nhiêu nước cũng vẫn bị khô cổ họng.
Rêu lưỡi vàng hoặc nám đen: Bệnh thuộc lý chứng.
Rêu trắng mỏng: Bệnh thuộc biểu chứng.
Rêu trắng mỏng ướt: Bệnh thuộc chứng biểu hàn.
Rêu lưỡi trắng nhạt, dầy: Bệnh thuộc chứng lý hàn.
Lưỡi hoạt nhuận, đầu lưỡi nở to, trắng nhạt, rêu lưỡi trắng trơn: thuộc chứng hàn.
Lưỡi cứng sượng, rêu thô vàng hoặc gai, hoặc đen, đầu lưỡi xanh sậm: thuộc chứng nhiệt.
Rêu lưỡi trắng: Bệnh thuộc chứng biểu thực.
Rêu lưỡi trắng nhạt: Bệnh thuộc chứng biểu hư.
Lưỡi đầy to, rêu trắng nhạt: Bệnh thuộc chứng lý thực hàn.
Lưỡi cứng sượng, rêu vàng khô: Bệnh thuộc chứng lý thực nhiệt.
Lưỡi co rút: tự nhiên lưỡi bị co rút, đông y gọi là hỏa thiêu cân, do nội nhiệt ở cơ thể do gan nhiệt làm ra hại đến thần kinh khiến lưỡi bị co rút ngắn hoặc lệch một bên sinh ra tật nói ngọng, đớ lưỡi.
Lưỡi dầy, trơn, ướt, trắng nhạt, rêu trắng: chứng tỏ người hàn, bao tử hàn, không muốn ăn.
Gốc lưỡi đỏ hay sưng: gốc lưỡi sâu trong cổ họng chỉ chức năng hoạt động của thận, nếu thận hoạt động tốt thì gốc lưỡi lúc nào cũng ướt, khi bị khô cổ họng là thận thủy không đưa nước lên tới cổ họng, khi đau viêm họng là tuyến thượng thận mất chức năng điều chỉnh hormones để kháng viêm.
Cạnh hai bên hông lưỡi: chỉ chức năng hoạt động của gan. Cạnh lưỡi bằng phẳng trơn tru là chức năng gan tốt. Nếu cạnh lưỡi có gai hay có hình răng cưa là gan bị nhiệt. Cạnh lưỡi vừa có gai, có hình răng cưa nhăn nhúm, vừa có mầu đỏ đậm hoặc bầm đen là gan bị tổn thương thực thể như chai gan, viêm gan loại A,B,C.
Quan sát răng, nướu răng: Răng chỉ chức năng hoạt động của thận dương. Nướu răng chỉ chức năng tỳ vị.
Nếu chân răng chắc là chức năng tỳ vị khỏe.
Nếu nướu răng lỏng lẻo là chức năng tỳ vị thực nhiệt làm sưng nướu và chân răng. Nếu nướu dễ mọc mụn bọc mủ do bao tử chứa thức ăn tích nhiệt độc, ăn thiếu sinh tố E trong rau xanh.
Răng tốt, men răng trắng bóng: chỉ chức năng thận dương hoạt động tốt.
Răng khô: chỉ chức năng chuyển hóa thận âm của thận dương yếu không đem chất xương nuôi răng.
Răng ngả mầu tối đen, không bóng, có chỉ sọc trên mặt răng: cho biết chức năng thận âm dương đều hư yếu.
Quan sát tai: Tai là bộ vị chỉ chức năng hoạt động của thận và tuyến thượng thận.
Mầu sắc của hai tai giống nhau và hồng như mầu da mặt, tươi sáng là chức năng hoạt động của thận tốt.
Tai chia hai phần, nửa tai phần trên chỉ sự hoạt động của tuyến thượng thận hay còn gọi là thận dương, nửa tai phần dưới chỉ chức năng thận âm. Cả hình dáng của tai chỉ hình phản chiếu hình thể của qủa thận.
Phần trên tai sưng, da tai như mọng nước: cho biết tuyến thượng thận bên phía tai đó bị bệnh. Nếu đỏ bầm phần trên hai bên tai là thận dương không chuyển hóa tạo hormones để phòng chống bệnh.
Mầu sắc hai tai trắng nhạt hơn da mặt: cho biết chức năng thận âm dương đều hư yếu, người bị hàn, lạnh.
Tai nở to dầy như sưng, mầu trắng xanh: chứng tỏ sưng thận, phù nước, không chuyển hóa, cơ thể hư nhược bệnh hoạn nặng trong bệnh liệt thận.
Vành tai dầy, có những hột cứng chìm trong da: không phải mụn, không đau không đỏ, chứng tỏ trong cơ thể có bướu, hạch.
Loa tai tự nhiên mở rộng mỏng ra: nhìn thấy như tai lừa khác với tai bên kia hay nhìn thấy khác với bình thường, chứng tỏ cơ thể bị độc tố nặng mà chức năng thận không thải lọc được như trong trường hợp bệnh ung thư phải dùng đến hóa chất trị liệu với liều cao. Khi độc tố trong cơ thể ít đi loa tai sẽ trở lại bình thường.
Quan sát móng tay, chân: Đông y nhìn móng tay và chân để tìm dấu hiệu của khí, huyết liên quan đến dinh dưỡng đúng hay sai.
Các móng tay mỏng và hồng: là khí đủ, huyết đủ.
Móng tay mỏng và trắng: là khí đủ huyết thiếu.
Móng tay dầy, cứng, bền: là huyết đủ, khí dư.
Móng tay cứng khô: là khí dư, huyết thiếu.
Móng tay xám đen: là khí huyết không đến nuôi móng tay.
Móng xanh tím: thuộc chứng hàn.
Móng đỏ tím: thuộc chứng nhiệt.
Móng tay trắng nhạt: là khí huyết đều thiếu.
Móng tay có phao trắng: là do tình trạng dinh dưỡng sai lầm không phù hợp với nhu cầu mà cơ thể cần.
Móng tay thâm đen như dính thuốc nhuộm: là có tình trạng hở van tim.
Móng tay chân nứt dọc thành rãnh: là dấu hiệu của bệnh liên quan đến gan thận.
Móng chân hai mầu: Móng chân khô sước như sớ gỗ, phần trong móng mầu vàng là dấu hiệu nhiễm bệnh sida.
Móng chân biến dạng: Móng chân đen và hình thù biến dạng là dấu hiệu bệnh nấm.
Quan sát da tay, chân: Da là bộ vị chỉ chức năng của phổi, được nuôi dưỡng bằng ăn uống thuộc tỳ - vị, hô hấp thuộc phổi, và trao đổi sự khí hóa hòa hợp của tâm - thận, nên da lúc nào cũng mịn, tươi sáng, hồng, lỗ chân lông khép kín. Nếu một trong các cơ quan tạng phủ trên bị bệnh thì da sẽ bị biến đổi khác.
Da khô mốc: chỉ chức năng chuyển hóa của thận yếu.
Lỗ chân lông hở to: chỉ chức năng của phổi yếu, có liên quan đến bệnh của phổi.
Da phù nước hoặc phù khí: chỉ chức năng của tâm hỏa không đủ chuyển hóa thận thủy.
Da hay bị tụ máu bầm đỏ dưới da, không đau: Chỉ chức năng của tỳ không nạp đường, dấu hiệu của bệnh tiểu đường.
Da nổi mụn chìm, mụn âm, không đau: Do huyết âm hư.
Da nổi mụn có ngòi mủ, mụn dương, sờ vào đau: Trong người có nhiều nhiệt độc.
Da cổ chân có vết bầm đen: chỉ chức năng thận dương hư.
Da có vết bầm sưng đau: Do ứ huyết thực chứng.
Đăng ký trang web OSO2 để có nhiều thông tin về sức khỏe và phác đồ chữa trị cho nhiều chứng bệnh khác nhau như: Đau nhức, bại liệt...; hoàn toàn miễn phí
ĐĂNG KÝ
Bụi hoặc muỗi bay vào mắt, mắt bị cay xè: Chớ có dụi mắt mà tổn thương đến giác mạc. Chỉ cần thè lưỡi ra hết liếm mép vài cái, nước mắt sẽ ứa ra “lùa vật lạ” ra khỏi mắt! Nên nhớ một điều: nếu bị mắt phải thì liếm mép bên trái và ngược lại.
Mắt nhắm không khít: Một mắt nhắm không khít (do bị liệt dây thần kinh số 7 chẳng hạn), hơ ngải cứu bên mắt đối xứng. Ngày hơ nhiều lần, mỗi lần hơ độ vài phút, mắt sẽ dần dần nhắm khít.
Mũi nghẹt cứng: Dù mũi bị nghẹt (tắc hoặc tịt) đến mức nào và đã bao lâu rồi, chỉ cần hơ ngải cứu vào đồ hình mũi trên trán - từ giữa trán (huyệt 103) đến đầu đôi lông mày (huyệt 26), độ một phút thôi, mũi sẽ thông thoáng ngay. Thật là một phép lạ đến khó tin.
Bả vai đau nhức, không giơ lên cao được: Dùng đầu ngón tay trỏ gõ vài chục cái vào đầu mày (huyện 65) cùng bên đau. Vai hết đau và tay lại giơ lên cao được ngay.
Bong gân, trật khớp cổ tay: Hãy bình tĩnh dùng ngón tay trỏ gõ mạnh độ vài chục cái vào sát đuôi mày cùng bên đau, cổ tay sẽ trở lại bình thường (muốn tìm điểm chính xác cần gõ, hãy lấy ngón tay miết nhẹ vào đuôi mày, thấy chỗ nào hơi lõm xuống, đấy là điểm chính xác - huyệt 100 - phản chiếu đúng cổ tay)
Bong gân, trật khớp vùng mắt cá chân: Mắt cá chân bên nào bị trật khớp, hơ vùng mắt cá tay cùng bên. Mắt cá chân bị đau dù đã lâu ngày cũng lành trong vài phút. Các vận động viên quốc gia, các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hãy nhớ lấy mẹo này để tự cứu mình và giúp người.
Bắp chân bị vọp bẻ (chuột rút): Dùng cườm tay day mạnh vào bắp tay độ vài chục cái, vọp bẻ hết liền. Nhớ vọp bẻ chân bên nào thì day mạnh bắp tay bên đó.
Gai gót chân: Nhớ hơ đúng điểm tương ứng bên gót chân đối xứng, chỉ vài phút thôi, gót chân hết đau liền. Hết sức cẩn thận kẻo bị phỏng.
Đầu gối đau nhức: Hơ vùng khuỷu tay (cùi chỏ) cùng bên, chỉ độ vài phút đầu gối (khuỷu chân) hết đau liền.
Bị táo bón lâu ngày: Dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) lăn quanh miệng độ vài ba phút - khoảng độ 200 vòng, táo bón sẽ được giải quyết. Cách lăn như sau: lăn từ mép phải vòng lên môi trên sang mép trái. Lăn tiếp vào phía dưới và giữa môi dưới rồi kéo thẳng xuống ụ cằm (hình thành một dấu hỏi lớn chiếm 3/4 quanh miệng). Nhớ lăn từ phải qua trái mới nhuận tràng, hết táo bón. Ngược lại lăn từ trái qua phải, sẽ càng táo bón hơn đấy!
Nhức đầu: Bất cứ nhức ở bộ phận nào trên đầu, mới nhức hay đã lâu, nặng hay nhẹ, chỉ cần hơ mu bàn tay trái (đã nắm lại) trên điếu ngải độ vài phút, nhức đầu như búa bổ cũng hết ngay. Nào! Thử làm xem.
Nếu nhức nửa đầu bên phải, hơ nửa mu bàn tay phía bên phải.
Nếu nhức nửa đầu bên trái, hơ nửa mu bàn tay phía bên trái.
Nếu nhức sau gáy, hơ phía cổ tay trên.
Nếu nhức đỉnh đầu, hơ ụ xương gồ cao nhất của ngón tay giữa.
Nếu nhức thái dương, chỉ cần hơ thái dương đối xứng 1 phút là hết ngay.
Nếu nhức cả hai bên thì hơ đi hơ lại.
Nếu nhức trán, hơ hết các đốt cuối của 4 ngón tay đã nắm lại.
Nếu chỉ nhức nửa trán bên phải, hơ 2 ngón tay bên phải.
Nếu chỉ nhức nửa trán bên trái, hơ 2 ngón tay bên trái.
Nếu chỉ nhức giữa trán, chỉ cần hơ 2 ngón giữa độ 1 phút là hết ngay.
Nếu nhức quanh đầu, hơ quanh mu bàn tay.
Mất ngủ: Bất kể mất ngủ vì nguyên nhân gì, xin nhớ không nên dùng thuốc ngủ vừa tiền mất vừa tật mang. Bí quyết đơn giản để có giấc ngủ ngon là: trước khi ngủ, hãy xoa đôi bàn chân cho ấm. Chân ấm là bụng ấm, thân ấm. Đó là điều kiện đầu tiên để ngủ ngon. Sau đó, dùng đầu ngón tay giữa bên trái gõ vào huyệt An thần (tức Ấn đường của Đông y hoặc huyệt 26 của Diện Chẩn) độ vài phút sẽ làm nhịp tim ổn định và tinh thần được thư thái. Tay trái phản chiếu tim, Đầu ngón tay giữa phản chiếu cái đầu. Tâm và Thân an lạc – đó là những điều kiện cần thiết để ngủ ngon.
Sình bụng (do ăn không tiêu): Nếu ở nhà, hãy lấy ngải cứu hơ vào rốn và quanh vùng rốn độ vài phút, bụng sẽ xẹp dần. Nếu đang ở bữa tiệc đông khách, hãy lặng lẽ đi ra ngoài đến chỗ vắng người, lăn bờ môi trên một lúc: trung tiện bùng phát, bụng hết sình ngay!
Bí tiểu: Người lớn hoặc các cháu nhỏ có lúc bí tiểu, hãy bình tĩnh vuốt cằm độ vài phút, “cơn bí” hết liền! Cách vuốt như sau: ngón tay cái giữ chân cằm, ngón tay trỏ vuốt ụ cằm từ trên xuống dưới nhiều lần. Bàng quang sẽ được tháo nút, nước tiểu tự do chảy (theo Diện Chẩn, ụ cằm phản chiếu bàng quang – huyệt 87). Các cụ già hay đi tiểu đêm, các cháu nhỏ hay đái dầm, trước khi ngủ độ 15 phút hãy tự vuốt cằm đi, các “tật” trên sẽ tự biến rất nhanh!
Nấc cụt: Đây là bệnh thông thường nhưng lại gây nhiều khó chịu, làm cho người bệnh mất ăn, mất ngủ. Ăn sao được khi vừa nâng bát cơm lên đã bị cơn nấc trào ngược rồi; ngủ sao được khi vừa nằm xuống, cơn nấc đã rộ lên âm vang khắp nhà! Có người phải nằm bệnh viện nhiều ngày mà vẫn không dứt căn. Chỉ cần làm một trong các hướng dẫn dưới đây, nấc cụt sẽ phải “đầu hàng”:
Dùng đầu ngón tay trỏ gõ mạnh vào đầu sống mũi nằm giữa cặp lông mày (huyệt 26 và 312) độ 15 cái. Nấc cụt biến mất đến khó tin (huyệt 26 là an thần và huyệt 312 thông nghẽn nghẹt).
Dùng đầu ngón tay trỏ vuốt mạnh từ đầu cánh mũi bên trái xuôi xuống chân cánh mũi độ 10-15 cái. Nấc cụt chịu phép phải nằm im, không dám ló mặt ra!
Dùng 4 đầu ngón tay (từ ngón trỏ đến ngón út co sát lại với nhau thành một đường thẳng) vạch dọc giữa đầu (từ trán ngược lên đỉnh đầu) độ 15 cái là hết nấc cụt! Xin hãy thử làm xem!
Đau bụng: Có thể khỏi nhanh bằng một trong những cách chữa đơn giản sau:
Hơ (bằng điếu ngải) hai lòng bàn tay độ 10 phút.
Hơ hai lòng bàn chân độ 10 phút.
Hơ rốn và lấy tay lăn quanh miệng.
Đau tử cung:
Gạch rãnh nhân trung từ đầu rãnh (sát mũi) đến cuối rãnh (sát bờ môi trên) nhiều lần.
Gạch hai bờ nhân trung và bờ môi trên nhiều lần.
Đau đầu dương vật: Chỉ cần hơ đầu mũi độ 1 phút, đầu dương vật sẽ hết đau.
Muốn cường dương: Dùng hai ngón tay trỏ vuốt mạnh 2 bên sườn mũi, từ chân cánh mũi lên tận đầu lông mày nhiều lần. Chỉ cần vuốt một lúc thôi “trên bảo dưới phải nghe” ngay!
Đau khớp háng: Gạch và hơ đường viền cánh mũi một lúc, khớp háng hết đau. Nhớ đau khớp háng bên nào thì gạch đường viền cánh mũi cùng bên.
Đau gót chân: Hơ và gõ gót chân đối xứng độ vài phút, gót chân đang đau hết ngay.
Đau bụng kinh: Hãy vuốt môi trên vài phút, đau bụng kinh hết liền.
Ho ngứa cổ:
Chà xát hai cổ tay vào nhau nhiều lần. Nhớ hai bàn tay phải nắm lại đã trước khi cọ xát vào nhau.
Hơ cổ tay trong của bàn tay trái đã nắm lại vài phút, ho và ngứa cổ hết rất nhanh. Xin chú ý, bàn tay trái nắm lại, lật úp xuống: mu bàn tay phản chiếu đầu não, cổ tay phản chiếu cổ gáy. Bàn tay trái nắm lại, lật ngửa ra: lòng bàn tay phản chiếu trái tim, cổ tay phản chiếu cổ họng.
Huyết áo cao: Hãy lấy đầu ngón tay út bấm vào huyệt (huyệt 15) nằm sâu sau loa tai bên trái nhiều lần (độ 1 phút), huyết áp sẽ hạ liền.
Huyết áp thấp: Vẫn dùng đầu ngón tay út bấm sâu vào huyệt (huyệt 19) đầu nhân trung sát với mũi nhiều lần, huyết áp sẽ được nâng lên liền.
Huyết trắng: Dùng hai đầu ngón tay – ngón trỏ và ngón giữa – để nằm ngang chà xát hai bờ môi một lúc.
Bế kinh: Dùng lăn đôi lớn lăn xuôi từ rốn xuống háng cho đến khi bụng nóng lên. Ngày lăn nhiều lần; độ 3-5 ngày, kinh nguyệt sẽ trở lại bình thường.
Lẹo mắt (lên chắp): Chỉ cần bấm vào chân mụn lẹo vài lần, mụn lẹo sẽ tiêu rất nhanh. Nhớ phát hiện càng sớm, chữa càng khỏi nhanh.
Liệt mặt (Thần kinh số 7 ngoại biên): Chỉ cần nhìn qua bên mặt bị liệt đã thấy hai triệu chứng rõ rệt: mắt nhắm không khít và một bên mép bị méo xệch xuống. Cách chữa hết sức đơn giản đến mức khỏi rồi mà vẫn tưởng như nằm mơ. Nhanh độ 3 ngày, chậm độ 7 ngày là khỏi.
Lấy điếu ngải cứu đốt hơ bên mắt lành độ vài phút, mắt có bệnh cứ từ từ nhắm lại. Mỗi ngày hơ vài lần, mắt nhắm lại dần dần.
Lấy tay hoặc lăn đôi nhỏ (trong bộ dụng cụ lăn, day huyệt) lăn chéo từ mép bị méo lên phía đỉnh tai. Ngày lăn nhiều lần, mỗi lần lăn độ vài phút. Chẳng bao lâu mép sẽ được kéo lên cân bằng với mép lành.
Mắt không di động được: Chỉ cần gõ vài chục lần vào huyệt nằm ở phía trước và dưới bình tai, mắt sẽ chuyển động bình thường. Huyệt này nằm ở ngay chỗ lõm sát bình tai, khi há miệng là sờ thấy ngay. Đây là huyệt số 0 của diện chẩn và đồng thời cũng là huyệt Thính hội của Đông y.
Đắng miệng: Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào huyệt lõm kề sát bên dưới môi dưới (huyệt 235) độ vài chục cái, miệng hết đắng liền!
Hàm mặt đau cứng (Thần kinh số 5): Lấy điếu ngải cứu hơ mặt ngoài ngón tay cái (cùng bên đau) từ ngón đến giáp cổ tay. Nhớ khi hơ bàn tay phải xòe ngửa ra. Chỉ cần hơ độ vài phút, hàm mặt đau cứng sẽ mềm dần và trở lại bình thường.
Hắt hơi liên tục: Sẽ hết ngay trong 1 phút nếu biết lấy ngải cứu hơ dọc từ giữa trán (huyệt 103) thẳng xuống đến giữa đôi lông mày (huyệt 26).
Ho khan lâu ngày: Lấy ngải cứu hơ hai bên sườn mũi, hai bên mang tai (từ đỉnh tai xuống đến dái tai), cổ tay trong (của bàn tay trái đã nắm lại) và trực tiếp cổ họng.
Hóc (hột trái cây, xương): Bấm hoặc gõ vào huyệt sát đầu nhân trung (huyệt 19) nhiều lần.
Các khớp ngón tay khó co duỗi: Lấy ngải cứu hơ đầu xương các đốt ngón tay rồi lăn, vê các đốt đó nhiều lần.
Mắt quầng thâm: Lấy ngải cứu hơ trực tiếp vào mắt, quầng thâm sẽ tan dần.
Buồn ngủ nhíu mắt lại: Vò hai tai một lúc là tỉnh ngủ liền.
Nhảy mũi: Lấy ngón tay trỏ cào từ cửa lỗ mũi xuống đến môi vài chục cái là hết nhảy mũi!
Quai bị: Bấm huyệt ngay sát dái tai bên sưng (huyệt 14) rồi hơ dái tai đối xứng độ vài phút. Ngày làm nhiều lần, quai bị tiêu rất nhanh.
Nhức răng: Hơ ngải cứu quanh vùng má bên đau độ 1 phút, răng hết nhức liền.
Mắt đỏ: Gạch đầu gan bàn tay dưới 3 ngón tay giữa độ vài phút, mắt đỏ hết rất nhanh. Nhớ mắt đỏ bên nào, gạch bàn tay cùng bên.
Mắt nhức: Hãy dùng đầu ngón tay trỏ cào đỉnh tai (huyệt 16) bên mắt nhức độ một lúc, mắt hết nhức liền.
Mắt nháy (giật): Dùng đầu ngón tay trỏ cào vào phần dưới (huyệt 179) của đầu lông mày bên mắt bị nháy một lúc, mắt sẽ hết giật.
Tê lưỡi, cứng lưỡi
Hơ ngải cứu xong rồi vê ngón tay cái bàn tay trái một lúc, lưỡi hết tê.
Gõ vào huyệt sát trên dái tai độ 1 phút, hết cứng lưỡi.
Khan tiếng
Chà xát vùng gáy cho nóng lên độ vài phút là hết.
Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào vùng trước dái tai nhiều lần trong ngày.